Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021

Bị chấm dứt HĐLĐ vì thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng
















NLĐ được giao nhiệm vụ làm 3 bộ phim ngắn, nhưng chỉ hoàn thành được 1; và không hoàn thành nhiều công việc khác nên đã bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ (ảnh minh hoạ)


NLĐ là một người nước ngoài khởi kiện nơi mình làm việc vì cho rằng đã bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Phía NSDLĐ đã chứng minh được NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc trong hợp đồng. Dưới đây là nội dung vụ án được ghi nhận trong Bản án số 02/2020/LĐ-PT ngày 30/12/2020 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của TAND Cấp cao tại Hà Nội, được công bố trên trang Công bố bản án của TANDTC. 

Nội dung vụ án:

Ngày 30/12/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án lao động “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

* Nguyên đơn: Ông Aaron L, sinh năm 1974; quốc tịch: Hoa Kỳ.

* Bị đơn: Trung tâm giáo dục thiên nhiên (sau đây gọi tắt là Trung tâm). 

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày:

- Ngày 06/02/2017, Trung tâm và ông Aaron L đã ký hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng, mức lương: 28.784.400đ/tháng. Sau đó, Trung tâm ký tiếp hợp đồng với ông Aaron L có thời hạn từ 01/8/2017 đến 01/8/2018. 

- Ngày 12/10/2017, Trung tâm đã đơn phương gửi email thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông Aaron L. Ngày 15/11/2017, Trung tâm đã gửi công văn qua email thông báo đơn phương chấm dứt thỏa thuận lao động với ông Aaron L từ ngày 12/10/2017 với lý do ông Aaron L không hoàn thành được công việc.

- Ông Aaron L cho rằng việc Trung tâm chấm dứt thỏa thuận lao động với ông là trái pháp luật. Vì vậy, ông khởi kiện, yêu cầu Trung tâm phải bồi thường khoản tiền 345.421.800đ.

- Do ông Aaron L đã làm thất lạc bản hợp đồng lao động là một bất lợi khi khởi kiện vụ án nhưng đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

* Trung tâm giáo dục thiên nhiên trình bày:

- Ngày 06/02/2017, Trung tâm ký hợp đồng lao động có thời hạn 01 năm với ông Aaron L; do sơ suất, Trung tâm đã làm thất lạc hợp đồng. Tuy nhiên, Trung tâm vẫn giữ mẫu hợp đồng đã ký kết với ông Aaron L (không có chữ ký 02 bên) và có bằng chứng về việc đã chuyển lương qua tài khoản của ông Aaron L. 

- Căn cứ vào mẫu hợp đồng thì nội dung hợp đồng lao động gồm các nội dung chính:

- Thời gian hợp đồng: 01 năm từ ngày 06/02/2017 đến ngày 05/02/2018, trong đó có thời gian thử việc từ ngày 06/02/2107 đến ngày 05/4/2017.

- Thời gian làm việc: Từ 08 giờ 30 đến 17 giờ 30 hàng ngày từ thứ hai đến thứ 6; ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật.

- Nội dung công việc gồm: Quản lý 03 chương trình của Trung tâm về giảm thiểu nhu cầu sử dụng và tiêu thụ động vật hoang dã bao gồm chương trình truyền thông, câu lạc bộ TNV và các hoạt động của Văn phòng Trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh; Tuyển và đào tạo cán bộ quản lý chương trình PCA; chịu trách nhiệm viết, chỉnh sửa và hoàn thiện các đề xuất dự án và báo cáo cho các nhà tài trợ; giúp nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên người Việt của Trung tâm.

- Mức lương: 31.668.000đ/tháng, trả vào ngày 15 của tháng tiếp theo vào tài khoản của ông Aaron L, mức lương sau khi khấu trừ thuế khoảng 28.000.000đ theo ngày làm việc thực tế.

- Chấm dứt hợp đồng: Mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng bằng việc thông báo bằng văn bản ít nhất 60 ngày cho bên kia.

- Bảo hiểm xã hội: 02 bên thỏa thuận Trung tâm không phải đóng bảo hiểm xã hội cho ông Aaron L do ông Aaron L đã có gói bảo hiểm riêng.

- Trung tâm đã chấm dứt hợp đồng lao động với ông Aaron L trước thời hạn vì lý do không hoàn thành nhiệm vụ theo khoản 10 Điều 36, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 30 Bộ luật lao động 2012, không phải đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động, cụ thể vì ông Aaron L thường xuyên không hoàn thành nội dung công việc, thường xuyên bị nhắc nhở qua email, cuộc họp. Trung tâm có đầy đủ email trao đổi trực tiếp với ông Aaron L về những việc không hoàn thành. 

- Do đó, Trung tâm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại Bản án lao động sơ thẩm số 04/2019/LĐ-ST ngày 22, 23/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Aaron L. 

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Phía nguyên đơn phát biểu quan điểm: Phía Trung tâm cho rằng ông Aaron L luôn không hoàn thành nhiệm vụ là không có căn cứ và bản án sơ thẩm đã căn cứ vào trình bày của phía bị đơn để nhận định là trái pháp luật. Bởi vì: Căn cứ vào Vi bằng thể hiện trong email của ông Aaron L thì ngày 16/8/2017 Trung tâm đã có thư khen ngợi; chương trình tập huấn không phải là trách nhiệm của ông Aaron L; phim ngắn chỉ hoàn thành 3/5 phim nhưng đây không phải là chuyên ngành của nguyên đơn, mà nguyên đơn là tiến sỹ động vật học; việc tuyển tình nguyện viên tại thành phố Hồ Chí Minh là nhiệm vụ của bà H2, nhưng sau khi bà H2 không thực hiện được thì Trung tâm mới cử ông Aaron L vào hỗ trợ và chỉ trong 03 ngày ông Aaron L đã tuyển được 03 tình nguyện viên; đối với báo cáo về bảo vệ động vật hoang dã ông chỉ giữ vai trò cố vấn, không phải là trách nhiệm chính; báo cáo ngày 06/10/2017 trách nhiệm chính là của ông Thế A, căn cứ vào email của ông Aaron L thì vào hồi 04 giờ 52 phút chiều ngày 06/10/2017 ông Thế A mới chuyển dự thảo báo cáo cho ông và ông đã làm việc suốt đêm đến khoảng hơn 02 giờ sáng ngày 07/10/2017 đã chỉnh sửa và gửi lại cho bà Q, Giám đốc Trung tâm. Đối với việc Trung tâm cho rằng ông Aaron L nói xấu lãnh đạo nhưng không có tài liệu gì chứng minh. Theo thỏa thuận thì nếu đơn phương chấp dứt hợp đồng phải báo trước 60 ngày, nhưng Trung tâm đã không thông báo trước.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:

- Thấy rằng, Hợp đồng lao động không tuân thủ quy định của pháp luật vì chưa được cấp phép nhưng đã ký và thực hiện hợp đồng; các đương sự không xuất trình được bản hợp đồng gốc để làm căn cứ, nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận đơn khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghi Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Nguyên đơn là ông Aaron L và bị đơn đều không cung cấp được bản hợp đồng lao động do hai bên đã ký kết; Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu các đương sự cung cấp, cũng như yêu cầu Cục việc làm thuộc Bộ Lao động thương binh và xã hội, là đơn vị cấp giấy phép cho ông Aaron L cung cấp, nhưng cũng không cung cấp được bản hợp đồng do hai bên đã ký kết. 

- Tuy nhiên, các đương sự đều thống nhất là Trung tâm giáo dục thiên nhiên và ông Aaron L ký hợp đồng lao động với nhau có thời hạn 12 tháng; 

- Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: ngày 15/11/2017 ông Aaron L nhận được thông báo qua email; nguyên đơn cho rằng phía người sử dụng lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ- CP thì người sử dụng lao động phải có quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. 

Tuy nhiên, căn cứ các tài lệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Các bản báo cáo và email trao đổi giữa Trung tâm giáo dục thiên nhiên và ông Aaron L vào các ngày 07/10/2017, ngày 30/9/2017, ngày 05/10/2017, ngày 07/10/2017, ngày 15/11/2017, ngày 16/11/2017, ngày 05/6/2017, ngày 17/8/2017, ngày 25/5/2017, ngày 06/6/2018 và lời xác nhận của phía nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm về việc Trung tâm giáo dục thiên nhiên có họp với ông Aaron L về việc ông Aaron L không hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, mặc dù Trung tâm giáo dục thiên nhiên không ban hành quy chế và nội quy lao động cũng như quy định bằng văn bản về các tiêu chí đánh giá hoàn thành công việc nhưng căn cứ mục đích và nội dung hoạt động của Trung tâm, là một tổ chức xã hội hoạt động dựa trên tài trợ của các cá nhân, tổ chức nhằm mục đích bảo vệ môi trường và việc người lao động cần phải chấp hành các nội quy lao động cơ bản và hoàn thành nhiệm vụ cơ bản trong quá trình lao động thực tế ở nơi làm việc. 

Thế nhưng, ông Aaron L thường xuyên không hoàn thành nội dung công việc, thường xuyên bị nhắc nhở qua email, cuộc họp. Ngày 16/8/2017, cấp quản lý không phải viết báo cáo nhưng ông Aaron L phải viết báo cáo vì không hoàn thành công việc. Các nội dung chương trình đều không hoàn thành như: Năm 2017 phải tập huấn 10 hoạt động ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh nhưng ông Aaron L chỉ hoàn thành 6/10, các tỉnh khác chỉ hoàn thành 9/15, không duy trì các hoạt động của câu lạc bộ tình nguyện viên: Các tháng đều không đạt được như yêu cầu. 

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động thì phải báo trước 30 ngày, Trung tâm đã không báo trước 30 ngày mà chấm dứt hợp đồng lao động ngay là vi phạm thời hạn báo trước, nhưng Trung tâm đã trả lương cho thời hạn báo trước 30 ngày cho ông Aaron L, tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn cũng xác nhận ông Aaron L đã nhận khoản tiền trả cho thời gian báo trước này và không có tranh chấp.

Hơn nữa, ông Aaron L khởi kiện tranh chấp hợp đồng lao động nhưng không xuất trình được hợp đồng lao động do hai bên đã ký kết; Tòa án đã yêu cầu phí bị đơn cũng như các đơn vị liên quan cung cấp, nhưng đều không thu thập được nên không có căn cứ xác định nội dung cụ thể hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động để làm căn cứ giải quyết vụ án; theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, ông Aaron L là người khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ để chứng minh. Do đó, cấp sơ thẩm đã không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Tổng hợp các phân tích trên thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp luật, đã đảm bảo được quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự; tại cấp phúc thẩm phía nguyên đơn xuất trình Vi bằng ghi nhận sự kiện ông Aaron L mở hộp thư điện tử (email) nhưng với tình tiết này cũng không có căn cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

> Không chấp nhận kháng cáo của ông Aaron L; giữ nguyên quyết định của Bản án lao động sơ thẩm số: 04/2019/LĐ-ST ngày 22, 23/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
.........

* Bình luận của Luật sư Trần Hồng Phong:

"Bài học" về vấn đề thế nào là "không hoàn thành công việc theo hợp đồng"? 

1. Đây là một vụ án minh chứng điển hình về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Cụ thể, tại Điểm a Khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2019 quy định NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi "NLĐ xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động". (Ghi chú: Thời điểm xảy ra vụ án này, BLLĐ 2012 vẫn đang còn hiệu lực nên Toà án xét xử theo luật 2012). 

2. Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, về nguyên tắc, các bên có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu hoặc những ý kiến, quan điểm của mình, thông qua "chứng cứ". Trong vụ án này, phía NSDLĐ đã chứng minh được phía NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc được giao; Toà án đã chấp nhận quan điểm của phía NSDLĐ, theo đó bác yêu cầu khởi kiện của phía NLĐ (nguyên đơn).

3. Nói chung, phần lớn các vụ án lao động thường liên quan đến việc NLĐ bị sa thải hay chấm dứt HĐLĐ. Tỷ lệ các vụ án phía NLĐ thắng kiện - tức là chứng minh được việc mình bị phía NSDLĐ sa thải hay đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật - không phải là thấp. Nhưng trong vụ án này, NLĐ đã "thua kiện" vì phía NSDLĐ đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật.

4. Bài học kinh nghiệm lớn nhất trong vụ án này, đối với phía NSDLĐ/doanh nghiệp, là cần phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Cụ thể, khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lý do NLĐ "thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ", thì phải có đủ cơ sở và chứng cứ để chứng minh.

5. Phía NSDLĐ cần đặc biệt lưu ý là: chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi NLĐ xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động "được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở". Hay nói khác đi, tại doanh nghiệp, NSDLĐ phải xây dựng và ban hành "Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc". Nếu không có quy chế này, thì sẽ không có cơ sở và/hoặc khó khăn hơn rất nhiều trong việc đánh giá và chứng minh NLĐ có hay không việc "thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động".

6. Điều cuối cùng mà tôi muốn lưu ý, là việc NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ không phải là hành vi vi phạm kỷ luật lao động, mà thuộc về vấn đề năng lực/tay nghề của NLĐ. Do vậy, khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này, phía NSDLĐ sẽ không cần phải tiến hành việc xử lý kỷ luật lao động. 
.......

Không có nhận xét nào: