(ảnh minh hoạ)
Hoa Văn
Cập nhật 2/2026
Lao động là hoạt động quan trọng nhất tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Do đó, chính sách của Nhà nước về lao động không chỉ định hướng cho sự phát triển kinh tế mà còn là thước đo sự công bằng, tiến bộ của một quốc gia. Dưới đây là giới thiệu, phân tích về Chính sách của Nhà nước về lao động, dựa trên nền tảng của Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật liên quan.
1. Quy định pháp luật về Chính sách của Nhà nước về lao động
Nền tảng triết lý quản lý lao động của Việt Nam được quy định tập trung và xuyên suốt tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, Nhà nước ta thực hiện 07 nhóm chính sách trọng tâm sau đây:
Nền tảng triết lý quản lý lao động của Việt Nam được quy định tập trung và xuyên suốt tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, Nhà nước ta thực hiện 07 nhóm chính sách trọng tâm sau đây:
* Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi của cả hai bên trong quan hệ lao động:
- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động (NLĐ), kể cả người làm việc không có quan hệ lao động; khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho NLĐ có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật.
- Đồng thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động (NSDLĐ), quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.
* Thứ hai, thúc đẩy tạo việc làm:
- Tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động. (Đồng thời, theo Điều 4 Luật Việc làm 2025, Nhà nước khuyến khích tạo việc làm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh).
* Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao:
- Có chính sách phát triển, phân bố nguồn nhân lực; nâng cao năng suất lao động; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề; ưu đãi đối với NLĐ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* Thứ tư, phát triển thị trường lao động:
- Có chính sách phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức kết nối cung, cầu lao động.
* Thứ năm, xây dựng quan hệ lao động hài hòa:
- Thúc đẩy NLĐ và NSDLĐ đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
* Thứ sáu, bảo vệ nhóm lao động yếu thế:
- Bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.
2. Bình luận và Đánh giá
Các chính sách quy định tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019 được đánh giá là toàn diện, mang tính thực tiễn cao và tiệm cận với các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
Các chính sách quy định tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019 được đánh giá là toàn diện, mang tính thực tiễn cao và tiệm cận với các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
Dưới đây là những điểm sáng đáng chú ý:
A. Sự cân bằng và bình đẳng lợi ích
A. Sự cân bằng và bình đẳng lợi ích
Một trong những bước tiến lớn nhất của chính sách lao động hiện hành là không chỉ tập trung bảo vệ NLĐ (vốn được coi là bên yếu thế) mà còn khẳng định mạnh mẽ việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ.
Pháp luật nhận thức rõ rằng: chỉ khi doanh nghiệp được bảo vệ, được quản lý lao động linh hoạt và phát triển ổn định, thì mới có thể tạo ra nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho NLĐ. Sự bảo vệ song song này tạo ra một "sân chơi" công bằng, khuyến khích đầu tư kinh doanh.
B. Mở rộng "chiếc ô" an sinh xã hội cho khu vực lao động phi chính thức
B. Mở rộng "chiếc ô" an sinh xã hội cho khu vực lao động phi chính thức
Điểm đột phá mang tính nhân văn sâu sắc là việc chính sách lao động đã chính thức gọi tên và mở rộng phạm vi áp dụng đối với "người làm việc không có quan hệ lao động" (lao động tự do, xe ôm công nghệ, lao động nền tảng...). Điều này cho thấy Nhà nước không bỏ rơi khu vực kinh tế phi chính thức, hướng tới việc bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và các quyền cơ bản cho mọi công dân có tham gia lao động, chứ không chỉ giới hạn ở những người có ký hợp đồng lao động.
C. Chuyển dịch tư duy từ "can thiệp" sang "thúc đẩy tự thỏa thuận"
C. Chuyển dịch tư duy từ "can thiệp" sang "thúc đẩy tự thỏa thuận"
Luật pháp không đóng khung các điều kiện lao động mà tuân theo nguyên tắc thị trường: quy định mức sàn tối thiểu để bảo vệ người lao động và khuyến khích các bên thỏa thuận cao hơn luật. Thay vì can thiệp hành chính sâu vào doanh nghiệp, Nhà nước đóng vai trò "bà đỡ", thúc đẩy cơ chế đối thoại và thương lượng tập thể. Đây là cách giải quyết tận gốc các mâu thuẫn lợi ích, giúp duy trì quan hệ lao động ổn định, hạn chế đình công.
D. Thích ứng với thời đại công nghiệp 4.0
D. Thích ứng với thời đại công nghiệp 4.0
Chính sách đặc biệt nhấn mạnh đến việc đào tạo kỹ năng nghề, nâng cao năng suất lao động và thu hút nhân tài chuyên môn, kỹ thuật cao. Kết hợp với Luật Việc làm 2025 ưu tiên chuyển đổi số, kinh tế xanh, đây là tầm nhìn chiến lược dài hạn. Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ không còn dựa vào "nhân công giá rẻ" mà đang dịch chuyển mạnh mẽ sang "nhân lực chất lượng cao".
E. Đề cao tính nhân đạo và bình đẳng giới
E. Đề cao tính nhân đạo và bình đẳng giới
Việc luật hóa việc bảo vệ các nhóm lao động đặc thù (phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em) và bảo đảm bình đẳng giới thể hiện sự cam kết của Việt Nam với các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Điều này giúp bảo đảm mọi người đều có cơ hội việc làm bình đẳng, không ai bị gạt lại phía sau trong quá trình phát triển.
3. Kết luận
Chính sách của Nhà nước về lao động quy định tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019 chính là "kim chỉ nam" cho toàn bộ hệ thống pháp luật lao động, việc làm, an toàn vệ sinh lao động và công đoàn tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa các quy luật của kinh tế thị trường và sự can thiệp mang tính xã hội của Nhà nước, chính sách này không chỉ tạo hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp phát triển mà còn xây dựng một môi trường làm việc tử tế, an toàn và ngày càng thịnh vượng cho người lao động.
Chính sách của Nhà nước về lao động quy định tại Điều 4 Bộ luật Lao động 2019 chính là "kim chỉ nam" cho toàn bộ hệ thống pháp luật lao động, việc làm, an toàn vệ sinh lao động và công đoàn tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa các quy luật của kinh tế thị trường và sự can thiệp mang tính xã hội của Nhà nước, chính sách này không chỉ tạo hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp phát triển mà còn xây dựng một môi trường làm việc tử tế, an toàn và ngày càng thịnh vượng cho người lao động.
.....
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét