
Người lao động nói chung đều là đối tượng phải (bắt buộc) tham gia BHTN (ảnh minh họa)
Ls Trần Hồng Phong giới thiệu
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một chính sách an sinh xã hội thiết yếu, được tổ chức nhằm hỗ trợ duy trì việc làm, đào tạo, tư vấn, giới thiệu việc làm và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Với sự ra đời của Luật Việc làm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành, khung pháp lý về BHTN đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ và nhân văn.
Dưới đây chúng tôi phân tích về đối tượng tham gia, các chế độ BHTN.
1. Đối tượng tham gia Bảo hiểm thất nghiệp
Theo quy định tại Điều 31 Luật Việc làm 2025, việc tham gia BHTN là bắt buộc đối với cả người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), cụ thể:
* Đối với Người lao động:
Theo quy định tại Điều 31 Luật Việc làm 2025, việc tham gia BHTN là bắt buộc đối với cả người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), cụ thể:
* Đối với Người lao động:
Phạm vi bao phủ của BHTN rất rộng, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hoặc hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên (kể cả khi hai bên gọi bằng tên khác nhưng bản chất là việc làm có trả công, có sự quản lý).
- Người làm việc không trọn thời gian nhưng có mức lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất.
- Người làm việc theo hợp đồng làm việc.
- Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, người quản lý hợp tác xã có hưởng tiền lương.
* Tuy nhiên, luật loại trừ các trường hợp:
* Tuy nhiên, luật loại trừ các trường hợp:
Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu; người đang thử việc; người giúp việc gia đình.
* Đối với Người sử dụng lao động:
* Đối với Người sử dụng lao động:
Bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cả cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo các loại hợp đồng nêu trên.
> Quy định mở rộng đáng kể đối tượng tham gia, đặc biệt là nhóm lao động làm việc không trọn thời gian (part-time) và người quản lý doanh nghiệp/hợp tác xã. Điều này cho thấy sự tiến bộ của pháp luật, bảo vệ tối đa quyền lợi cho những người có tạo ra thu nhập từ lao động, thích ứng với tính linh hoạt của thị trường việc làm hiện đại. Việc loại trừ nhóm người đang hưởng lương hưu hoặc thử việc là hoàn toàn hợp lý, tránh trùng lặp chế độ an sinh và phù hợp với tính chất tạm thời của việc làm.
> Quy định mở rộng đáng kể đối tượng tham gia, đặc biệt là nhóm lao động làm việc không trọn thời gian (part-time) và người quản lý doanh nghiệp/hợp tác xã. Điều này cho thấy sự tiến bộ của pháp luật, bảo vệ tối đa quyền lợi cho những người có tạo ra thu nhập từ lao động, thích ứng với tính linh hoạt của thị trường việc làm hiện đại. Việc loại trừ nhóm người đang hưởng lương hưu hoặc thử việc là hoàn toàn hợp lý, tránh trùng lặp chế độ an sinh và phù hợp với tính chất tạm thời của việc làm.
2. Các chế độ Bảo hiểm thất nghiệp
Căn cứ Điều 30 Luật Việc làm 2025, BHTN bao gồm 4 chế độ cốt lõi:
2.1. Trợ cấp thất nghiệp (Điều 38 & Điều 39 Luật Việc làm 2025)
* Điều kiện hưởng:
- NLĐ phải chấm dứt hợp đồng hợp pháp (không thuộc diện đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu);
- đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng (hoặc trong 36 tháng đối với hợp đồng từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng);
- đã nộp hồ sơ trong thời hạn 3 tháng; và chưa tìm được việc làm sau 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ (trừ các trường hợp như đi bộ đội, đi tù, ra nước ngoài định cư...).
* Mức hưởng & Thời gian:
Mức trợ cấp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc, tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng.
Cứ đóng đủ 12 đến 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp; sau đó cứ đóng thêm đủ 12 tháng thì hưởng thêm 01 tháng, tối đa không quá 12 tháng.
Trong thời gian này, NLĐ còn được Quỹ BHTN đóng bảo hiểm y tế.
2.2. Tư vấn, giới thiệu việc làm (Điều 36 Luật Việc làm 2025 & Điều 10 Nghị định 374) Người lao động đang đóng BHTN bị chấm dứt hợp đồng mà có nhu cầu thì sẽ được Trung tâm dịch vụ việc làm công tư vấn, giới thiệu việc làm hoàn toàn miễn phí, hỗ trợ tham gia dự tuyển để nhanh chóng quay lại thị trường lao động.
2.3. Hỗ trợ người lao động đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề (Điều 37 Luật Việc làm 2025 & Điều 11 Nghị định 374)
2.2. Tư vấn, giới thiệu việc làm (Điều 36 Luật Việc làm 2025 & Điều 10 Nghị định 374) Người lao động đang đóng BHTN bị chấm dứt hợp đồng mà có nhu cầu thì sẽ được Trung tâm dịch vụ việc làm công tư vấn, giới thiệu việc làm hoàn toàn miễn phí, hỗ trợ tham gia dự tuyển để nhanh chóng quay lại thị trường lao động.
2.3. Hỗ trợ người lao động đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề (Điều 37 Luật Việc làm 2025 & Điều 11 Nghị định 374)
* Đối tượng:
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, hoặc người không hưởng trợ cấp nhưng có đóng BHTN đủ 09 tháng trở lên trong 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng (và đáp ứng một số điều kiện khác).
* Mức hỗ trợ:
Chi trả học phí tối đa 4.500.000 đồng/người/khóa (với khóa dưới 3 tháng) hoặc tối đa 1.500.000 đồng/người/tháng (với khóa từ đủ 3 tháng trở lên).
Ngoài ra, NLĐ còn được hỗ trợ tiền ăn 50.000 đồng/người/ngày thực học. Thời gian hỗ trợ tối đa không quá 06 tháng.
2.4. Hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng nhằm duy trì việc làm cho NLĐ (Điều 42 Luật Việc làm 2025 & Điều 22, 23 Nghị định 374)
2.4. Hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng nhằm duy trì việc làm cho NLĐ (Điều 42 Luật Việc làm 2025 & Điều 22, 23 Nghị định 374)
* Điều kiện:
NSDLĐ buộc phải cắt giảm lao động (từ 30% hoặc từ 30 lao động trở lên tùy quy mô) do thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế, thiên tai, dịch bệnh.... NSDLĐ phải đóng đủ BHTN từ 12 tháng trở lên trong 24 tháng và có phương án duy trì việc làm cho NLĐ.
* Mức hỗ trợ:
Tối đa 1.000.000 đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ không quá 06 tháng. NSDLĐ có trách nhiệm phải duy trì việc làm cho NLĐ tối thiểu 12 tháng sau khi được đào tạo.
3. Lưu ý và Lời khuyên cho các bên
* Đối với Người lao động:
- Ghi nhớ "thời điểm vàng": Bạn chỉ có 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động để nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Quá thời hạn này, bạn sẽ không được giải quyết mà chỉ được bảo lưu thời gian đóng.
- Tuân thủ quy định thông báo tìm việc: Hằng tháng, trong thời gian hưởng trợ cấp, bạn bắt buộc phải thông báovề việc tìm kiếm việc làm cho tổ chức dịch vụ việc làm. Nếu không thực hiện, bạn sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp; nếu không thực hiện 03 tháng liên tục, bạn sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp hoàn toàn và không được bảo lưu thời gian.
- Tận dụng tối đa quyền lợi học nghề: Đừng chỉ nhận tiền trợ cấp. Hãy sử dụng quyền lợi được hỗ trợ học phí và tiền ăn để nâng cao tay nghề, chuyển đổi nghề nghiệp.
* Đối với Người sử dụng lao động:
* Đối với Người sử dụng lao động:
- Tuân thủ đóng đúng, đóng đủ: Mức đóng BHTN của NSDLĐ là 1% quỹ tiền lương tháng của NLĐ tham gia. Nếu NSDLĐ trốn đóng hoặc không đóng đủ dẫn đến việc NLĐ không được hưởng chế độ, NSDLĐ phải tự bỏ tiền túi để chi trả/bồi thường khoản tiền tương ứng với các chế độ mà NLĐ đáng lý được hưởng.
- Chính sách nhân văn cần tận dụng: Nếu doanh nghiệp tuyển dụng mới và sử dụng NLĐ là người khuyết tật, doanh nghiệp sẽ được giảm mức đóng BHTN từ 1% xuống 0% (thuộc phần trách nhiệm của NSDLĐ) trong thời gian tối đa 12 tháng. Đây là chính sách cực kỳ có lợi nhằm khuyến khích sử dụng lao động yếu thế.
- Dùng quỹ để vượt qua khủng hoảng: Khi gặp khó khăn về kinh tế, thiên tai, dịch bệnh buộc phải cắt giảm lao động, thay vì sa thải, hãy xây dựng phương án đào tạo nâng cao kỹ năng nghề để xin hỗ trợ kinh phí từ Quỹ BHTN (tối đa 1 triệu đồng/người/tháng). Tuy nhiên, cần lưu ý cam kết duy trì việc làm cho NLĐ tối thiểu 12 tháng sau khi đào tạo, nếu vi phạm sẽ bị thu hồi kinh phí.
Tổng kết:
Tổng kết:
Luật Việc làm 2025 và các Nghị định hướng dẫn đã kiến tạo một hệ sinh thái an sinh xã hội toàn diện, không chỉ "cấp cứu" NLĐ khi mất việc mà còn tạo bệ phóng giúp họ tái hòa nhập thị trường. Cả người lao động và doanh nghiệp cần nắm vững các quy định này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước.
....
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét