Lao động nữ có nhiều quyền hơn trong quan hệ pháp luật lao động so với lao động nam (ảnh minh hoạ)
Ls. Trần Hồng Phong
Do đặc điểm về tâm sinh lý và thiên chức làm mẹ, lao động nữ được pháp luật quy định những chính sách riêng. Trong đó, đó việc cấm NSDLĐ sử dụng lao động nữ giới làm số trong công việc nhất định. Vấn đề này được quy định tại Bộ luật lao động 2019. Cụ thể như sau:
1. Sự thay đổi: Không còn "cấm tuyệt đối", trao quyền tự quyết cho lao động nữ
Theo Bộ luật Lao động 2019, thay vì ban hành một danh mục cấm phụ nữ làm một số công việc nhất định, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm "Nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con".
Danh mục này được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành chi tiết tại Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động vẫn có thể sử dụng lao động nữ làm các công việc này, nhưng phải tuân thủ điều kiện nghiêm ngặt:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động vẫn có thể sử dụng lao động nữ làm các công việc này, nhưng phải tuân thủ điều kiện nghiêm ngặt:
- Phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn.
- Phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động khi sử dụng họ làm các công việc thuộc danh mục này.
- Theo khoản 1 Điều 11 Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH, công ty phải công bố công khai danh mục này tại nơi làm việc, đồng thời thực hiện khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc và khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
Như vậy, nếu một lao động nữ có đủ sức khỏe và tự nguyện lựa chọn làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm (ví dụ: lái máy thi công hạng nặng, trực tiếp luyện quặng, làm việc trên giàn khoan...),,, pháp luật hoàn toàn tôn trọng và cho phép, miễn là doanh nghiệp bảo đảm an toàn cho họ.
Như vậy, nếu một lao động nữ có đủ sức khỏe và tự nguyện lựa chọn làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm (ví dụ: lái máy thi công hạng nặng, trực tiếp luyện quặng, làm việc trên giàn khoan...),,, pháp luật hoàn toàn tôn trọng và cho phép, miễn là doanh nghiệp bảo đảm an toàn cho họ.
2. Những giới hạn sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ thai sản
Mặc dù trao quyền tự do lựa chọn, nhưng pháp luật thiết lập một "vùng cấm" và các biện pháp bảo vệ khắt khe nhằm bảo vệ thai nhi và trẻ sơ sinh. Các quy định này tập trung tại Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 về bảo vệ thai sản:
* Thứ nhất, giới hạn về thời giờ làm việc và đi công tác:
Căn cứ khoản 1 Điều 137, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau:
- Mang thai từ tháng thứ 07 (hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo).
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
* Thứ hai, bắt buộc chuyển công việc đối với lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ:
* Thứ hai, bắt buộc chuyển công việc đối với lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ:
Căn cứ khoản 2 Điều 137, khi lao động nữ đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc thuộc Danh mục có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con, nếu họ mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết, thì người sử dụng lao động bắt buộc phải thực hiện một trong hai biện pháp sau cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi:
- Chuyển người lao động sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn.
- Giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày. (Lưu ý: Việc chuyển việc hoặc giảm giờ làm này tuyệt đối không được cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích của người lao động).
* Chi tiết các công việc ảnh hưởng đến lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ:
* Chi tiết các công việc ảnh hưởng đến lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ:
- Phần I Phụ lục Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH liệt kê chi tiết các công việc này. Bên cạnh 55 công việc áp dụng chung (như mang vác trên 50kg, đổ bê tông dưới nước, vận hành nồi hơi...).
- Mục 2 của Phụ lục còn quy định thêm 38 nhóm công việc đặc thù áp dụng đối với lao động nữ trong thời gian có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, ví dụ: Công việc phải mang vác nặng trên 20 kg, tiếp xúc trực tiếp với các hóa chất ảnh hưởng xấu tới thai nhi và sữa mẹ (chì, thủy ngân, v.v.), làm việc trong môi trường thiếu dưỡng khí, nhiệt độ không khí từ 40°C trở lên về mùa hè.
3. Ví dụ minh họa
Ví dụ 1 (Quyền tự do lựa chọn):
Chị A (25 tuổi, chưa lập gia đình) ứng tuyển vào vị trí thợ hàn trong thùng kín, trên độ cao 15m. Đây là công việc thuộc Danh mục có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản. Công ty B đã giải thích rõ các nguy cơ độc hại. Chị A thấy mức lương rất cao nên tự nguyện ký hợp đồng. Việc công ty B tuyển dụng chị A là hợp pháp, vì pháp luật hiện hành không cấm lao động nữ làm việc này nếu họ đã được thông tin và tự nguyện,.
Ví dụ 2 (Bảo vệ thai sản bắt buộc):
Chị C đang làm công nhân xáo đảo xúc bùn ao nuôi thủy sản (công việc thuộc danh mục ảnh hưởng xấu đến thai nhi theo Thông tư 10). Khi chị C phát hiện mình mang thai tháng thứ 2 và báo cho Giám đốc, Giám đốc bắt buộc phải chuyển chị C sang làm công việc khác nhẹ nhàng hơn (như ghi chép sổ sách, dọn dẹp nhẹ) hoặc cho chị C về sớm 1 tiếng mỗi ngày mà vẫn phải giữ nguyên mức lương cũ cho đến khi con chị C tròn 1 tuổi.
Lời khuyên cho các bên liên quan
* Đối với Người sử dụng lao động (Đặc biệt là bộ phận HR):
Tính minh bạch: Nếu doanh nghiệp có các vị trí việc làm thuộc danh mục tại Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, khi tuyển dụng lao động nữ, bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận/cam kết ghi rõ việc người lao động đã được thông báo đầy đủ về rủi ro và tự nguyện làm việc.
Khám sức khỏe: Phải tuân thủ việc khám sức khỏe chuyên khoa phụ sản cho lao động nữ khi tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo quy định.
Kế hoạch nhân sự linh hoạt: Cần có phương án nhân sự dự phòng để ngay lập tức điều chuyển công việc cho lao động nữ khi họ thông báo mang thai. Tuyệt đối không được lấy lý do họ mang thai, không làm được việc nặng để sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, vì đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng (khoản 3 Điều 137 BLLĐ).
* Đối với Người lao động nữ:
* Đối với Người lao động nữ:
Tìm hiểu kỹ rủi ro: Trước khi nhận các công việc nặng nhọc, độc hại, hãy đọc kỹ Danh mục tại Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH để tự đánh giá mức độ ảnh hưởng đến dự định sinh con của bản thân.
Chủ động thông báo: Ngay khi biết mình mang thai, cần thông báo chính thức (có văn bản/email xác nhận) cho quản lý hoặc phòng nhân sự để kích hoạt quyền lợi được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm giờ làm theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động. Nếu công việc đe dọa trực tiếp đến thai nhi, bạn có quyền xin nghỉ tạm hoãn hợp đồng có xác nhận của bác sĩ.
.....
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét