Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

Chấm dứt HĐLĐ khi NLĐ đến tuổi nghỉ hưu






Khi NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu, HĐLĐ không tự động chấm dứt, nhưng mỗi bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ (ảnh minh hoạ)

Ls. Trần Hồng Phong 

Đến tuổi nghỉ hưu là một cột mốc tất yếu trong vòng đời lao động của mỗi con người. Tuy nhiên, việc người lao động (NLĐ) chạm mốc tuổi này có đương nhiên làm chấm dứt Hợp đồng lao động (HĐLĐ) hay không? Việc giải quyết quyền lợi khi chia tay người lao động cao tuổi được pháp luật quy định như thế nào trong Bộ luật Lao động 2019.


I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ QUY ĐỊNH

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, việc NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu không còn là căn cứ "đương nhiên chấm dứt HĐLĐ" như trước đây, mà nó được chuyển thành căn cứ để một trong hai bên thực hiện "Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ". Cụ thể:

1. Đối với Người sử dụng lao động (NSDLĐ): 

Căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi: "Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

* Về thủ tục: 

Mặc dù có quyền cho NLĐ nghỉ việc vì lý do đủ tuổi hưu, NSDLĐ bắt buộc phải tuân thủ thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36. 

Cụ thể: Phải báo trước ít nhất 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ từ 12-36 tháng; và ít nhất 03 ngày đối với HĐLĐ dưới 12 tháng. 

Việc tự ý ra quyết định cho nghỉ việc ngay lập tức vào đúng ngày sinh nhật của NLĐ là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

* Sự linh hoạt: 

Cụm từ "trừ trường hợp có thỏa thuận khác" mở ra cơ hội cho NSDLĐ giữ lại những nhân sự có tay nghề cao. Hai bên hoàn toàn có thể không chấm dứt hợp đồng mà tiếp tục duy trì quan hệ lao động dưới hình thức "Người lao động cao tuổi" (theo Điều 148, Điều 149).

2. Đối với Người lao động: 

Căn cứ tại điểm e khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi: "Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác".

* Đặc quyền không cần báo trước: 

Đây là một "đặc quyền" lớn dành cho NLĐ. Khi đủ tuổi nghỉ hưu, họ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ ngay lập tức mà không cần phải báo trước cho công ty bất kỳ ngày nào.

(Lưu ý: Tuổi nghỉ hưu theo Điều 169 đang được tăng theo lộ trình, hướng tới 62 tuổi với nam vào năm 2028 và 60 tuổi với nữ vào năm 2035).

3. Vấn đề "nhạy cảm" - Trợ cấp thôi việc: 

Rất nhiều doanh nghiệp lầm tưởng rằng cứ NLĐ về hưu là không phải trả trợ cấp thôi việc. Điều này là sai lầm. Căn cứ khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, NSDLĐ có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc khi chấm dứt HĐLĐ, "trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội...".

Như vậy, pháp luật phân biệt rất rõ 02 điều kiện: Đủ tuổi nghỉ hưu & Đủ điều kiện hưởng lương hưu. 

- Để hưởng lương hưu, NLĐ cần vừa đủ tuổi, vừa phải đóng Bảo hiểm xã hội đủ thời gian quy định theo Luật BHXH.

Nếu NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng để được hưởng lương hưu, thì khi công ty chấm dứt HĐLĐ, công ty vẫn phải chi trả trợ cấp thôi việc cho những năm tháng NLĐ làm việc mà chưa được đóng Bảo hiểm thất nghiệp.

II. VÍ DỤ MINH HỌA

Ví dụ 1 (Đứng từ góc độ Doanh nghiệp): 

Bác A năm nay 62 tuổi (đủ tuổi nghỉ hưu). Bác đã làm việc tại Công ty X được 25 năm và có 25 năm đóng BHXH (đủ điều kiện nhận lương hưu). Công ty X muốn chia tay bác A để nhường vị trí cho lao động trẻ. 

Cách làm đúng: Công ty X phải gửi thông báo chấm dứt HĐLĐ cho bác A trước ít nhất 45 ngày (vì bác A ký HĐLĐ không xác định thời hạn). Khi hợp đồng kết thúc, do bác A đủ điều kiện nhận lương hưu, Công ty X không phải trả trợ cấp thôi việc cho bác A.

Ví dụ 2 (Đứng từ góc độ Người lao động): 

Cô B vừa đón sinh nhật đủ tuổi nghỉ hưu theo luật định. Cô thấy sức khỏe giảm sút nên muốn nghỉ ở nhà trông cháu. 

Cách làm đúng: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 35, cô B chỉ cần nộp đơn và có quyền thông báo nghỉ việc ngay ngày hôm sau mà không bị coi là vi phạm thời hạn báo trước. Nếu cô B mới chỉ đóng BHXH được 15 năm (chưa đủ điều kiện nhận lương hưu), Công ty vẫn phải tính toán và trả trợ cấp thôi việc cho cô B đối với những khoảng thời gian làm việc hợp lệ.

III. LƯU Ý DÀNH CHO CÁC BÊN LIÊN QUAN

1. Đối với Người sử dụng lao động (Bộ phận HR):

* Hãy theo dõi hồ sơ BHXH: 

Trước khi ra quyết định chấm dứt HĐLĐ với người đủ tuổi hưu, bộ phận HR phải kiểm tra kỹ quá trình đóng BHXH của họ. Nếu họ chưa đủ 20 năm đóng BHXH, hãy chuẩn bị ngân sách để chi trả Trợ cấp thôi việc.

* Nhớ thời hạn báo trước: 

Đừng lấy lý do "đến tuổi hưu là đương nhiên nghỉ". Việc quên báo trước 45 ngày hoặc 30 ngày sẽ biến công ty thành bên "Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật", dẫn đến việc phải bồi thường tiền lương những ngày không báo trước và ít nhất 02 tháng lương.

* Cơ hội dùng LĐ cao tuổi: 

Nếu muốn giữ lại, công ty có thể ký HĐLĐ mới (thường là xác định thời hạn 01 năm và được ký nhiều lần liên tiếp). Lúc này, theo khoản 2 Điều 149, công ty phải trả lương đầy đủ, cộng thêm các quyền lợi, và tuyệt đối không bố trí họ làm việc nặng nhọc, độc hại nếu không đủ điều kiện khắt khe của luật.

2. Đối với Người lao động:

* Chủ động ra quyết định: 

Khi đến tuổi, quyền quyết định tiếp tục làm hay nghỉ là ở bạn. Nếu muốn nghỉ ngay, bạn được pháp luật bảo vệ quyền nghỉ không cần báo trước.

* Hiểu rõ tài chính của mình: 

Hãy kiểm tra Sổ BHXH. Nếu chưa đủ năm đóng BHXH để nhận lương hưu, hãy yêu cầu công ty thanh toán Trợ cấp thôi việc cho mình khi nghỉ việc.
.....

Không có nhận xét nào: