Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

Quy định về đối thoại tại nơi làm việc




NSDLĐ có trách nhiệm tổ chức đối thoại với NLĐ. Hàng năm phải tổ chức Hội nghị người lao động

Luật sư Trần Hồng Phong

Đối thoại tại nơi làm việc là một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật lao động, giúp giải quyết kịp thời các vướng mắc, chia sẻ thông tin và thiết lập sự thấu hiểu giữa Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Người lao động (NLĐ). Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP đã có những hướng dẫn rất chi tiết, mang tính linh hoạt và thực tiễn cao về vấn đề này.


I. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC

1. Đối thoại tại nơi làm việc là gì? 

Theo khoản 1 Điều 63 Bộ luật Lao động 2019, đối thoại tại nơi làm việc là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa NSDLĐ với NLĐ hoặc tổ chức đại diện NLĐ về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, hướng tới giải pháp các bên cùng có lợi.

2. Khi nào phải tổ chức đối thoại? 

NSDLĐ bắt buộc phải tổ chức đối thoại trong 03 trường hợp sau (khoản 2 Điều 63 Bộ luật Lao động 2019):

- Đối thoại định kỳ: Ít nhất 01 năm một lần.

- Đối thoại khi có yêu cầu: Khi một hoặc các bên có yêu cầu.

- Đối thoại khi có vụ việc: Bắt buộc tiến hành khi NSDLĐ thực hiện các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến NLĐ, bao gồm:

> Ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc để đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động.

> Cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế.

> Xây dựng phương án sử dụng lao động.

> Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động.

> Ban hành quy chế thưởng.

> Ban hành nội quy lao động.

> Tạm đình chỉ công việc của NLĐ.

3. Nội dung đối thoại là gì?

Bắt buộc: Đối với các trường hợp "có vụ việc" nêu trên, nội dung đối thoại chính là nội dung của vụ việc đó.

Tự chọn: Tình hình sản xuất kinh doanh; việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động, nội quy; điều kiện làm việc; các yêu cầu của hai bên và các nội dung khác cùng quan tâm,.

4. Thành phần và số lượng người tham gia đối thoại 

Theo Điều 38 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thành phần tham gia được quy định chặt chẽ để bảo đảm tính đại diện:

* Bên NSDLĐ: Ít nhất 03 người, trong đó phải có người đại diện theo pháp luật.

* Bên NLĐ: Số lượng đại diện phụ thuộc vào tổng số lao động của doanh nghiệp. 

Ví dụ: Dưới 50 lao động thì cử ít nhất 03 người; từ 50 đến dưới 150 lao động cử ít nhất 04 - 08 người... và từ 1.000 lao động trở lên cử ít nhất 24 người,. Những đại diện này do Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở (Công đoàn) và Nhóm đại diện đối thoại của NLĐ cử ra tương ứng với tỷ lệ thành viên của họ.

5. Trách nhiệm ban hành quy chế dân chủ 

NSDLĐ bắt buộc phải ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việcđể quy định chi tiết về nguyên tắc, số lượng, cách thức tổ chức đối thoại định kỳ, đối thoại khi có yêu cầu và đối thoại vụ việc.

Khi xây dựng quy chế này phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ.

II. VÍ DỤ MINH HỌA

* Ví dụ 1 (Đối thoại khi có vụ việc): 

Công ty X muốn ban hành Nội quy lao động mới. Giám đốc Công ty (NSDLĐ) không thể tự ý ký ban hành ngay. Theo luật, Công ty X phải gửi dự thảo Nội quy cho Công đoàn (đại diện NLĐ),. Công đoàn lấy ý kiến công nhân và gửi lại phản hồi bằng văn bản. 

> Sau đó, Công ty X tổ chức buổi Đối thoại tại nơi làm việc để hai bên ngồi lại thảo luận về những điều khoản chưa thống nhất trong dự thảo. Kết thúc đối thoại, hai bên lập biên bản và Công ty X có trách nhiệm công bố kết quả công khai chậm nhất sau 03 ngày làm việc,. Sau quy trình này, Công ty X mới được ban hành Nội quy.

* Ví dụ 2 (Đối thoại khi có yêu cầu): 

Gần đây, chất lượng bữa ăn ca tại Nhà máy Y đi xuống, công nhân liên tục phàn nàn. Công đoàn cơ sở đã họp và trên 30% thành viên đại diện đối thoại đồng ý yêu cầu NSDLĐ tổ chức đối thoại. 

> Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi nhận yêu cầu, Giám đốc Nhà máy Y phải có văn bản trả lời, chốt thời gian, địa điểm để hai bên cùng ngồi lại đối thoại, giải quyết vấn đề chất lượng bữa ăn.

III. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ

1. Chuyển từ "Hình thức" sang "Thực chất": 

Quy định về đối thoại của Bộ luật Lao động 2019 là một bước tiến lớn. Thay vì ép buộc doanh nghiệp phải đối thoại định kỳ 3 tháng/lần một cách máy móc và hình thức như các quy định cũ, luật hiện hành chỉ bắt buộc đối thoại định kỳ "ít nhất 01 năm 1 lần". 

Thay vào đó, luật đề cao tính thực tiễn bằng cách trao quyền "đối thoại khi có yêu cầu" và buộc phải đối thoại ngay "khi có vụ việc" ảnh hưởng trực tiếp đến "miếng cơm manh áo" của NLĐ (như thưởng, lương, sa thải, cắt giảm nhân sự).

2. Mở rộng tính dân chủ: 

Pháp luật hiện nay đã bao phủ toàn diện hơn khi quy định: kể cả ở những nơi NLĐ không tham gia Công đoàn, NSDLĐ vẫn phải hỗ trợ để họ lập ra "nhóm đại diện đối thoại của người lao động" để bảo vệ quyền lợi cho chính họ. Điều này bảo đảm không một nhóm NLĐ nào bị bỏ lại phía sau trong quá trình đàm phán chính sách nội bộ.

3. Công cụ phòng ngừa khủng hoảng: 

Đối thoại là "van xả áp" hữu hiệu nhất. Việc tổ chức đối thoại thiện chí giúp giải quyết những bức xúc nhỏ ngay từ tổ, xưởng, ngăn chặn chúng tích tụ thành các cuộc đình công tự phát hoặc tranh chấp lao động tập thể gây thiệt hại lớn cho cả đôi bên.

IV. LƯU Ý VÀ LỜI KHUYÊN

1. Dành cho Người sử dụng lao động (Ban Lãnh đạo, Bộ phận HR):

Bắt buộc ban hành Quy chế dân chủ: Hãy rà soát và ban hành ngay Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Nếu thiếu văn bản này, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính khi cơ quan nhà nước thanh tra.

Tuân thủ trình tự "Đối thoại vụ việc": Đừng bỏ qua bước đối thoại khi ban hành Quy chế thưởng, Thang bảng lương hay Nội quy lao động. Việc tự ý ban hành mà không qua đối thoại/tham khảo ý kiến đại diện NLĐ sẽ khiến các văn bản này bị coi là trái luật, vô hiệu và gây bất lợi cho doanh nghiệp khi ra Tòa án.

Bảo đảm điều kiện và công khai thông tin: Doanh nghiệp phải đài thọ địa điểm, thời gian tổ chức đối thoại. Đặc biệt lưu ý, chậm nhất 03 ngày làm việc sau khi kết thúc đối thoại định kỳ, yêu cầu hoặc vụ việc, NSDLĐ phải công bố công khai nội dung chính của cuộc đối thoại tại nơi làm việc để toàn thể NLĐ được biết.

2. Dành cho Người lao động và Tổ chức đại diện NLĐ (Công đoàn):

Chủ động sử dụng quyền yêu cầu đối thoại: Đừng chờ đợi đến kỳ đối thoại hằng năm. Khi tập thể có bất kỳ vướng mắc nào về chế độ phúc lợi, môi trường làm việc độc hại hay thái độ quản lý, Công đoàn hãy kích hoạt quyền "Yêu cầu đối thoại". Chỉ cần ít nhất 30% thành viên đại diện của bên NLĐ đồng ý, NSDLĐ bắt buộc phải ngồi vào bàn đàm phán.

Chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi đối thoại: Đối thoại không phải là nơi để "cãi vã" cảm tính. Các thành viên đại diện cần lấy ý kiến rộng rãi từ NLĐ, tổng hợp số liệu, bằng chứng rõ ràng (ví dụ: hình ảnh bữa ăn kém chất lượng, bảng khảo sát giá cả thị trường...) để gửi trước cho NSDLĐ,,. Sự chuẩn bị chuyên nghiệp sẽ giúp cuộc đối thoại đạt được kết quả như mong muốn.

Giám sát việc thực hiện: Cuộc đối thoại chỉ thực sự có ý nghĩa nếu các cam kết được thực thi. NLĐ có quyền giám sát việc NSDLĐ thực hiện các thỏa thuận đã được ghi vào biên bản đối thoại và quy chế dân chủ.
.....

Không có nhận xét nào: