Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Thời gian làm việc từ công ty cũ được tính, vì các bên đã tự nguyện thoả thuận từ đầu



Những vụ án về tranh chấp HĐLĐ, quyền lợi của người lao động là khá phổ biến (minh hoạ)

(Vụ án lao động) - Sau khi thôi việc, Người lao động khởi kiện công ty vì cho rằng không được trợ cấp thôi việc theo đúng thời gian đã thoả thuận khi vào làm. Toà sơ thẩm đã 'xử thua" cho người lao động. Nhưng tại toà phúc thẩm, thời gian làm việc từ công ty cũ đã được tính, vì ba bên đã tự nguyện thoả thuận từ đầu. Vụ án là một bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp khi thoả thuận giao kết hợp đồng lao động.
  • Luật sư Trần Hồng Phong bình luận, phân tích

Theo thông tin trên trang Công bố bản án của TANDTC, tại Bản án lao động số x/2025/LĐ-PT ngày 15/05/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử vụ án có nội dung như sau:

1. Thông tin chung về vụ án:

- Loại tranh chấp: Tranh chấp về tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động.

- Cấp xét xử: Phúc thẩm.

- Nguyên đơn: Ông H Hross (người lao động).

- Bị đơn: Công ty TNHH B Việt Nam (người sử dụng lao động).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH B Hồng Kông.

2. Nội dung tranh chấp:

* Phía nguyên đơn (Ông H Hross): Yêu cầu Công ty B Việt Nam thanh toán tiền trợ cấp thôi việc tính từ ngày 15/12/1999 (thời điểm bắt đầu làm việc cho Công ty B Hồng Kông) đến ngày 25/02/2021 (khi thôi việc tại Công ty B Việt Nam) với tổng số tiền còn thiếu là 83.088 Euro. Ngoài ra, ông còn yêu cầu thanh toán tiền 02 vé máy bay khứ hồi về Đức (chưa sử dụng) và tiền lãi chậm trả.

* Phía bị đơn (Công ty B Việt Nam): Không đồng ý với yêu cầu trên, lập luận rằng ông Hross chỉ chính thức ký hợp đồng lao động và làm việc cho Công ty B Việt Nam từ ngày 01/04/2020 đến 25/02/2021 (chưa đủ 12 tháng) nên không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc theo luật định. Việc ông làm việc trước đó là cho pháp nhân độc lập Công ty B Hồng Kông. Đồng thời, bị đơn cũng từ chối trả tiền vé máy bay vì ông Hross chưa làm việc đủ 12 tháng của năm dương lịch.

3. Quyết định của Tòa án sơ thẩm (Bản án số y/2023/LĐ-ST):

Vụ án này đã được xét xử sơ thẩm từ năm 2023. Phán quyết của toà sơ thẩm:

- Chỉ chấp nhận một phần yêu cầu, buộc bị đơn trả trợ cấp thôi việc tính từ ngày 17/07/2017 (ngày được cấp giấy phép lao động đầu tiên) đến ngày 25/02/2021 với số tiền 12.580,50 Euro.

- Đình chỉ giải quyết yêu cầu về vé máy bay và không xem xét yêu cầu tính lãi chậm trả.

Sau đó, cả hai bên đều có đơn kháng cáo.

4. Nhận định và Quyết định của Tòa án phúc thẩm:

Tại tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã tự nguyện rút kháng cáo về yêu cầu thanh toán vé máy bay và bổ sung yêu cầu đòi Sổ bảo hiểm xã hội.

Nhận định của Tòa án: 

Dựa trên Phụ lục hợp đồng ngày 01/04/2020 ký kết giữa 3 bên, Công ty B Việt Nam đã đồng ý tiếp nhận hợp đồng và công nhận các quyền lợi của ông Hross từ những năm làm việc cho Công ty B Hồng Kông (từ 15/12/1999) như thể ông đã làm việc cho Công ty B Việt Nam.

Phán quyết:

- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bác kháng cáo của bị đơn: Sửa bản án sơ thẩm, buộc Công ty TNHH B Việt Nam phải chi trả cho ông H Hross số tiền trợ cấp thôi việc tính cho cả quá trình 21 năm (từ 15/12/1999 đến 25/02/2021). Số tiền bị đơn còn phải thanh toán là 83.088,00 Euro (tương đương hơn 2,2 tỷ đồng).

- Bác bỏ các yêu cầu khác của nguyên đơn: Không chấp nhận yêu cầu tính tiền lãi chậm trả trợ cấp thôi việc và yêu cầu đòi Sổ bảo hiểm xã hội, do các yêu cầu này đã vượt quá phạm vi khởi kiện/kháng cáo ban đầu.

- Đình chỉ xét xử phần yêu cầu thanh toán vé máy bay do nguyên đơn đã tự nguyện rút đơn.
......

Bình luận và phân tích của Luật sư Trần Hồng Phong:

Trước hết, tôi đánh giá Toà phúc thẩm đã xét xử công bằng, hợp lý và đúng pháp luật. Theo quy định, Toà phúc thẩm sẽ xét xử phúc thẩm trên cơ sở xem xét nội dung kháng cáo của mỗi bên. Toà cũng sẽ ghi nhận sự thoả thuận đạt được giữa hai bên ngay tại phiên toà.

Vụ án này có những điểm nhấn về mặt pháp lý mà doanh nghiệp và người lao động cần lưu ý sau đây.

1. Về nguyên tắc tự do thỏa thuận và tính pháp lý của Phụ lục hợp đồng chuyển giao lao động

Điểm mấu chốt và đáng chú ý nhất của vụ án này nằm ở Phụ lục hợp đồng ngày 01/4/2020 được ký kết giữa ba bên: Người lao động (ông Hross), Người sử dụng lao động trước đây (Công ty B Hồng Kông) và Người sử dụng lao động mới (Công ty B Việt Nam).

Đánh giá pháp lý: Tòa án cấp phúc thẩm đã thể hiện quan điểm bảo vệ sự tự do thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Phụ lục này ghi rõ Công ty B Việt Nam "chấp nhận công nhận các quyền lợi mà Người lao động đã được hưởng từ những năm làm việc với Người sử dụng lao động trước đây như thể những năm làm việc này đã được sử dụng với Người sử dụng lao động mới".

Việc Tòa án sơ thẩm trước đó bác bỏ khoảng thời gian từ năm 1999 đến 2017 (chỉ tính từ lúc có giấy phép lao động tại Việt Nam) là một cách áp dụng pháp luật máy móc, bỏ qua ý chí tự nguyện của các bên.

Tôi cho rằng quyết định của Tòa phúc thẩm hoàn toàn hợp lý. Khi ông Hross đồng ý từ bỏ các quyền lợi chấm dứt hợp đồng với công ty mẹ ở Hồng Kông để chuyển sang ký hợp đồng với công ty con tại Việt Nam, sự đánh đổi là công ty tại Việt Nam phải kế thừa toàn bộ nghĩa vụ thâm niên của ông. Do trên thực tế Công ty Hồng Kông chưa chi trả trợ cấp thôi việc cho ông Hross khi chấm dứt hợp đồng cũ, trách nhiệm này đương nhiên chuyển giao cho Công ty B Việt Nam theo đúng cam kết.

2. Về căn cứ phát sinh nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc

Việc chấm dứt quan hệ lao động xuất phát từ đơn xin nghỉ việc của ông Hross và được Giám đốc Công ty B Việt Nam chấp thuận. Đây là trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng lao động và quy định của Bộ luật Lao động.

Theo quy định, khi chấm dứt hợp đồng hợp pháp, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc. Lập luận của bị đơn cho rằng ông Hross làm việc chưa đủ 12 tháng (từ tháng 4/2020 đến tháng 2/2021) để từ chối trả trợ cấp đã bị bẻ gãy hoàn toàn bởi chính cam kết cộng dồn thâm niên tại Phụ lục hợp đồng. Tổng thời gian làm việc được Tòa án xác định hợp pháp là 21 năm, dẫn đến khoản tiền trợ cấp không hề nhỏ (hơn 83.000 Euro). Điều này là một bài học pháp lý đắt giá cho các doanh nghiệp đa quốc gia khi soạn thảo các thỏa thuận luân chuyển nhân sự mà không lường trước hậu quả tài chính của việc "công nhận thâm niên/quyền lợi tích lũy".

3. Các yếu tố về Tố tụng dân sự (Phạm vi khởi kiện và kháng cáo)

Bản án phúc thẩm cũng thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tố tụng dân sự của Tòa án, đặc biệt trong việc xử lý các yêu cầu vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu:

Về yêu cầu tính lãi chậm trả: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn mới bổ sung yêu cầu đòi tiền lãi chậm trả đối với khoản trợ cấp thôi việc. Tòa án các cấp đã áp dụng đúng khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, từ chối xem xét yêu cầu này vì nó vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu (quá trình chuẩn bị xét xử không hề đề cập).

Về yêu cầu đòi Sổ bảo hiểm xã hội: Tại phiên phúc thẩm, nguyên đơn lại tiếp tục phát sinh yêu cầu đòi Sổ bảo hiểm xã hội. Tòa phúc thẩm đã bác bỏ ngay lập tức vì yêu cầu này vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu và chưa hề được cấp sơ thẩm giải quyết, nên không thuộc thẩm quyền của cấp phúc thẩm.

Về việc rút yêu cầu thanh toán vé máy bay: Việc nguyên đơn tự nguyện rút kháng cáo đòi tiền vé máy bay đã được Tòa phúc thẩm chấp nhận và ra quyết định đình chỉ xét xử đối với phần này theo khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Kết luận: 

Bản án x/2025/LĐ-PT là một minh chứng rõ nét cho việc pháp luật lao động Việt Nam tôn trọng các thỏa thuận ba bên mang yếu tố quốc tế, miễn là các thỏa thuận đó không trái pháp luật và bảo đảm quyền lợi tốt hơn cho người lao động. Bản án cũng cho thấy sự khắt khe của pháp luật tố tụng trong việc giới hạn phạm vi xét xử đúng với những gì đương sự đã khởi kiện/kháng cáo hợp lệ từ ban đầu.
......

Không có nhận xét nào: